Giảm giá!

Đại Nam Quốc Âm Tự Vị – Huỳnh Tịnh Của

1,500,000 980,000

Đại Nam Quốc Âm Tự Vị

Huỳnh Tịnh Của (Huình Tịnh Paulus Của)

NXB Imprimerie Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn 1895-1896

Tập I từ vần A đến vần L: 608 trang,

Tập II từ vần N đến vần X: 596 trang

Đây là bộ từ điển tường giải tiếng Việt đầu tiên, mục từ xếp theo mẫu tự a, b, c trình bày như các từ điển của phương Tây, thu thập và giải nghĩa khoảng 7.500 từ đơn, 30.000 từ ghép, nhiều thành ngữ, tục ngữ, nhân danh, địa danh, tổng số từ và thành ngữ trong từ điển gần 71.000 đơn vị, Cuốn sách là kho tư liệu vô cùng quý giá về từ vựng tiếng Việt thế kỷ XIX. Cấu tạo mục từ gồm: chữ Hán hoặc chữ Nôm-tiếng Việt (đơn tự ghi bằng chữ quốc ngữ, có chua ký hiệu đây là chữ Hán hoặc Nôm)-phần giải nghĩa bằng tiếng Việt. Trong mỗi mục từ gồm nhiều từ ghép có dẫn nhiều thành ngữ danh ngôn.

Mô tả

Huỳnh Tịnh Của hay Huình Tịnh Paulus Của (1834-1907) hiệu là Tịnh Trai, quê ở tỉnh Bà Rịa, là người tinh thông cả Hán văn lẫn Pháp văn. Ông cùng một vài cộng sự đã dành hơn bốn năm để biên soạn bộ Đại Nam quấc âm tự vị.

Huỳnh Tịnh Của sáng tác khá nhiều và đa dạng, nhưng trong số những tác phẩm của ông, nổi bật nhất là pho Đại Nam quốc âm tự vị. Qua tác phẩm đồ sộ đó, Huỳnh Tịnh Của đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng quốc văn mới. Ðại Nam quốc âm tự vị là quyển tự vị tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam, do người Việt Nam biên soạn. Nghiên cứu của Huỳnh Tịnh Của được đánh giá là mang tính đột phá táo bạo khi phải đến hơn ba mươi năm sau mới lại có một hội văn học ở Bắc Kỳ là Hội khai trí Tiến Đức nghĩ đến tiếp tục công việc đó và cho tới tận bây giờ, Đại Nam quốc âm tự vị vẫn được coi là pho sách kinh điển của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam.

Khi soạn Ðại Nam quốc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của chủ trương làm một cuốn tự vị ngắn gọn, chỉ liệt kê các tiếng và định nghĩa một cách vắn tắt, chứ không chú giải, dẫn điển, dẫn tích. Ông viết: “Có kẻ hỏi tự điển, tự vị khác nhau thế nào? Sao sách ta làm kêu là tự vị mà không gọi là tự điển?…. Tự điển, tự vị khác nhau có một sự rộng hẹp. Tự điển phải có chú giải, mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển, dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, nguyên là lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy; chí như tự vị cũng là sách hội biên các thứ chữ, cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, nghĩa một, mà không dẫn điển tích gì”. Còn về nội dung của cuốn tự vị, thì ngay từ trang bìa, Huỳnh Tịnh Của đã ghi rõ: “Ðại Nam quốc âm tự vị tham dụng chữ nho có giải nghĩa, có dẫn chứng, mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ”.

Trong quá trình soạn sách, Huỳnh Tịnh Của đã được một người Pháp tên là A. Landes giúp đỡ rất nhiều về ý kiến cũng như phương pháp. Landes là một nhà Ðông phương học, có học chữ nho và từng làm Giám đốc Trường Thông ngôn ở Sài Gòn từ năm 1885. Cũng chính Landes là người, vào năm 1895, khi đang làm Ðổng lý văn phòng cho Toàn quyền De Lanessan, đã khuyên Huỳnh Tịnh Của xin Thống đốc Nam Kỳ xuất quỹ để xuất bản bộ tự vị này. Tất nhiên, công việc chính vẫn do Huỳnh Tịnh Của trì chí thực hiện, như lời ông viết: “nhân khi rỗi rảnh, ta cứ việc làm theo tiếng ta, chữ ta, viết đi chép lại, ngày đêm khó nhọc, hơn bốn năm trời mới thành công việc”.

Công sức của Huỳnh Tịnh Của đã được đền đáp xứng đáng khi bộ sách trở thành “sách gối đầu giường” với nhiều thế hệ các nhà ngôn ngữ Việt Nam. Bộ tự vị có những ưu điểm rất nổi bật:

Trước hết, ngữ vựng trong đó rất phong phú. Ví dụ như chữ “ăn” có tới 125 chữ ghép khác nhau, cho thấy công lao tìm tòi công phu của người biên soạn. Nó còn bao gồm chẳng những các từ ngữ văn chương, chung cho cả ba miền đất nước, rút ra từ các áng văn chương bác học và bình dân, mà cả ngôn ngữ bình dân, đặc biệt là những tiếng có màu sắc địa phương được sử dụng nhiều ở Nam Kỳ và Trung Kỳ thời bấy giờ, góp phần làm sáng tỏ rất nhiều khúc mắc ngôn ngữ học hiện đại sau này.

Thứ đến, cách giảng giải của Đại Nam quốc âm tự vị rất rõ ràng. Bộ sách không chỉ vắn tắt giảng nghĩa, mà đôi khi còn trình bày nguồn gốc của chữ để cho nghĩa được rõ hơn, bằng cách trích thêm những câu tục ngữ, ca dao, những câu thơ Kiều, Lục Vân Tiên…

Thứ ba là việc phân biệt chữ Hán Nôm. Tinh thông cả chữ Pháp, chữ Hán lẫn chữ Nôm, Huỳnh Tịnh Của đã không dùng cách xếp loại theo tự loại, mà phân biệt chữ theo hai gốc văn tự là Hán Việt và Nôm. Sáng kiến này rất hợp với ngôn ngữ Việt Nam. Nó giúp cho độc giả hiểu rõ và dùng đúng các từ Hán Việt đã và đang có. Nó cũng giúp cho các nhà ngôn ngữ học sáng tạo thêm những từ mới theo yêu cầu của công nghiệp và giáo dục của thế giới hiện đại.

Cuối cùng, phương pháp soạn sách rất khoa học. Tra cứu Ðại Nam quốc âm tự vị có thể thấy tính khoa học, chính xác và chặt chẽ rất cao. Huỳnh Tịnh Của rất tuân thủ nguyên tắc ngôn ngữ thống nhất, nhưng ông cũng biết thích nghi áp dụng nguyên tắc biến hóa thực tiễn của ngôn ngữ trong bộ sách của mình.

Đại Nam quốc âm tự vị in lần đầu tại Sài Gòn vào các năm 1895 và 1896 sau đó được tái bản nhiều lần. Ấn bản mới nhất do Nhà xuất bản Trẻ in vào năm 1998 bao gồm hai tập, dày 1.210 trang, tập 1 gồm 608 trang, tập 2 gồm 602 trang.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Chỉ những khách hàng đã đăng nhập và mua sản phẩm này mới có thể đưa ra đánh giá.

Có thể bạn thích…